Cho bé ăn dặm: khi nào nên bắt đầu?

Cho bé ăn dặm là một “bước đi lớn” trong cuộc đời trẻ sơ sinh. Ngay từ khi mới sinh ra, hệ tiêu hóa của trẻ cần được khởi động và thích nghi dần với việc tiêu hóa sữa mẹ, thì bắt đầu giai đoạn ăn dặm, trẻ cũng cần thời gian để làm quen với các thực phẩm mới.

Những chuyên gia của Violetpham.vn khẳng định: loại thức ăn đầu tiên giới thiệu cho bé ăn dặm là rất quan trọng. Vì khi đó dạ dày của trẻ rất nhạy cảm trong khi chúng ta không thể biết khả năng tiêu hóa của trẻ đến đâu, và trẻ có dị ứng với loại thực phẩm nào không.

Cho bé ăn dặm

Bắt đầu tập ăn dặm là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời bé

Sẵn sàng cho bé ăn dặm

Sữa mẹ là tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Viện Nhi khoa Hoa Kỳ (cùng với rất nhiều viện dinh dưỡng uy tín khác trên toàn thế giới) thống nhất rằng sữa mẹ nên được xem là nguồn dinh dưỡng duy nhất cho trẻ sơ sinh đến khi bé được 6 tháng tuổi.

Tuy nhiên, hầu hết trẻ được 4-6 tháng đã có những dấu hiệu chứng tỏ bé đã sẵn sàng để bắt đầu ăn dặm. Đó là khi trẻ biết dùng lưỡi để phối hợp đưa thức ăn rắn từ phía trước miệng ra phía sau để nuốt. Trước đó, khi trẻ bú, lưỡi bé luôn đặt dưới núm vú và khi trẻ nuốt, sữa được trực tiếp đưa vào họng mà không cần dùng lưỡi để đẩy vào. Khi trẻ biết dùng lưỡi để vận chuyển hay nhào trộn thức ăn trong miệng là lúc bé đã sẵn sàng ăn dặm.

Ngoài độ tuổi, trẻ sẽ có những dấu hiệu khác cho thấy có thể bắt đầu cho bé ăn dặm, ví dụ như:

  • Trẻ đã có thể ngồi với tư thế thẳng đứng (khi có hỗ trợ) được chưa
  • Cổ bé đủ vững để nâng đầu hay chưa
  • Trẻ có mút ngón tay hay đồ chơi không
  • Trẻ có bị thu hút bởi những gì bạn ăn hay không

Nếu câu trả lời cho những câu hỏi này là “có” thì có nghĩa là bạn đã có thể bổ sung thức ăn dặm cho bé.

Bé sẵn sàng ăn dặm khi biết mút tay

Biết mút tay là một dấu hiệu cho thấy bé có thể ăn dặm

Bắt đầu bằng cái gì và khi nào?

Trẻ bắt đầu ăn dặm thì vẫn dùng sữa mẹ như nguồn dinh dưỡng chính. Sau đó:

  • Hãy bắt đầu bằng những thứ đơn giản: cho bé ăn những thực phẩm chỉ có một thành phần, không chứa đường cũng như muối ăn. Hãy chờ 3-5 ngày trước khi giới thiệu thêm thức ăn mới. Bằng cách này, bạn có thể ngay lập tức nhận diện nguyên nhân nếu những phản ứng tiêu cực với thức ăn như tiêu chảy, phát ban hay nôn ói xảy ra…

Sau khi trẻ quen với thức ăn đơn thành phần, bạn có thể cho bé ăn dặm những thức ăn kết hợp.

  • Các nhóm dinh dưỡng quan trọng: sắt và kẽm là 2 loại khoáng chất vô cùng quan trọng đối với trẻ trong nửa sau của năm tuổi đầu tiên (từ tháng thứ sáu đến tháng thứ 12). Các chất này được tìm thấy trong các loại thịt xay, ngũ cốc và bột ngũ cốc tăng cường.

Các loại đậu, bao gồm đậu lăng, đậu xanh, đậu Hà Lan có thể được chấp nhận.

  • Ngũ cốc cơ bản cho bé ăn dặm: hãy trộn 1 thìa canh bột ngũ cốc (hoặc ngũ cốc tăng cường giàu sắt) với 4 thìa canh (60ml) sữa mẹ hoặc sữa bột đã pha.

Không nên cho thức ăn vào bình để bé mút, thay vào đó, bạn hãy giúp bé ngồi thẳng và cho bé ăn dặm bằng một chiếc thìa nhỏ, 1 đến 2 lần mỗi ngày.

Cho trẻ ăn 1 đến 2 thìa cà phê sau mỗi lần bú.

Khi trẻ đã quen với thức ăn lỏng, bạn có thể tăng dần độ đặc của món bột lên. Các ngũ cốc như gạo, yến mạch hoặc lúa mạch là những lựa chọn tốt.

  • Thêm rau và trái cây: tiếp tục giới thiệu thêm cho bé những loại rau quả đơn nhất, và không thêm đường hoặc muối. Hãy bắt đầu với rau nghiền và sau đó thêm dần hoa quả (vì hoa quả thường chứa đường). Hãy cho bé ăn khoảng 3-5 ngày sau đó mới cho ăn loại rau mới.
  • Cung cấp thức ăn thái nhỏ: bé từ 8-10 tháng tuổi có thể cầm nắm những vật nhỏ, chẳng hạn như trái cây mềm, các miếng rau, phô mai, thịt xé nhỏ hay bánh quy và ngũ cốc sấy khô. Có thể cho bé tự ăn bằng cách bốc những thực phẩm mà chúng thích.

Thực đơn ăn dặm cho bé nên bắt đầu càng đơn giản càng tốt

Thực đơn ăn dặm nên bắt đầu càng đơn giản càng tốt

Khi trẻ được 1 tuổi, hãy cho bé ăn 3 bữa mỗi ngày cũng như thêm đồ ăn nhẹ, với các “phiên bản” được nghiền hoặc băm nhỏ của bất cứ thứ thức ăn nào bạn đang ăn.

Làm gì khi bé từ chối thức ăn dặm?

Đây là một điều hết sức bình thường. Trẻ sơ sinh thường từ chối khẩu phần ăn dặm khi mới bắt đầu, vị sự khác biệt trong mùi vị cũng như kết cấu của thức ăn. Nếu bé từ chối đồ ăn dặm, không nên ép buộc. Hãy thử lại sau 1 tuần. Nếu tình hình vẫn tiếp diễn thì bạn có thể hỏi ý kiến các chuyên gia hoặc những người có kinh nghiệm, để chắc chắn rằng đó chỉ là một dấu hiệu bình thường chứ không phải bệnh lý.

Nếu trẻ bị dị ứng thực phẩm thì sao?

Để giúp ngăn ngừa tình trạng dị ứng thực phẩm, cha mẹ nên tránh cho trẻ tiếp xúc sớm với những thức ăn có nguy cơ dị ứng cao như trứng, cá, tôm, cua, đậu phộng và các loại hạt quả hạch giàu chất béo (như hạnh nhân chẳng hạn).

Tuy rằng ngày nay không có bằng chứng thuyết phục nào chứng minh rằng tránh cho trẻ ăn những thực phẩm dễ gây dị ứng khi trẻ còn nhỏ có thể giúp trẻ không bị dị ứng các thức ăn đó khi trẻ lớn lên. Không những thế, nghiên cứu mới còn cho thấy nếu cho trẻ độ tuổi từ 4-11 tháng tuổi tiếp xúc với lạc (đậu phộng) thì có thể làm giảm khả năng bé bị dị ứng lạc khi trưởng thành.

Dị ứng thực phẩm

Trẻ bị dị ứng thực phẩm tuy không phổ biến nhưng vẫn cần thận trọng

Trong nghiên cứu này, những trẻ em có nguy cơ dị ứng cao, ví dụ như trẻ bị viêm da dị ứng (có cơ địa dị ứng), dị ứng trứng hoặc cả 2, hoặc trẻ có bố/mẹ bị dị ứng được cho ăn hoặc hoàn toàn tránh ăn thực phẩm có thành phần đậu phộng từ tháng thứ 4-11 cho đến khi các bé được 5 tuổi. Các nhà khoa học đã nhận thấy: những bé có nguy cơ cao thường xuyên tiêu thụ Protein từ lạc, chẳng hạn như bơ lạc, có khả năng bị dị ứng lạc thấp hơn từ 70-86%. Điều đó đồng nghĩa: trẻ có khả năng thích nghi với các loại thực phẩm, miễn là chúng ta cho bé ăn đúng cách.

Nước trái cây – có thể không?

Các món uống từ hoa quả không phải là một phần cần thiết trong chế độ ăn của bé, và thực ra nước ép trái cây không có giá trị dinh dưỡng như trái cây tươi. Quá nhiều nước hoa quả có thể liên quan đến vấn đề tiêu chảy hoặc thừa cân, cũng như ngăn chặn sự thèm ăn của trẻ đối với những thực phẩm bổ dưỡng khác.

Trẻ tiêu thụ nhiều nước trái cây cũng có nguy cơ sâu răng sữa cao hơn. Nếu bạn muốn cho bé dặm thêm nước trái cây, hãy đợi cho đến khi bé được ít nhất 6 tháng tuổi, và với số lượng hạn chế (khoảng 120-170 ml/ngày). Nước ép giàu Vitamin C (như ổi, dứa, dâu tây,…) có thể cải thiện sự hấp thu sắt của bé.

Không nên cho trẻ dưới 6 tháng tuổi dùng nước ép trái cây

Trẻ dưới 6 tháng tuổi không nên dùng nước trái cây

Những thứ gì nên tránh?

Một số nguyên tắc cần tuân thủ khi cho bé ăn dặm:

  • Không cho trẻ dùng sữa bò hoặc mật ong trước 1 tuổi: sữa bò không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh, cũng như không phải một nguồn cung cấp sắt tốt, do đó sữa bò làm tăng nguy cơ thiếu sắt.

Trong khi đó, mật ong sống chứa nhiều bào tử C. botulinum, có thể gây những bệnh lý nghiêm trọng nếu dùng cho đối tượng trẻ em dưới 1 tuổi.

  • Tránh các loại thức ăn có thể khiến trẻ bị hóc: tất cả các thực phẩm có trong tầm với của trẻ đều phải được chia nhỏ. Thịt cần được xé nhỏ hoặc hầm thật kỹ, các hoa quả cần được xắt thành miếng nhỏ.

Không cho trẻ ăn những thứ cứng như hạt quả hạch, lạc rang, bỏng ngô hay các loại kẹo cứng (kể cả kẹo mềm).

Trẻ sơ sinh không nên dùng sữa bò

Sữa bò được cho là nghèo năng lượng hơn so với sữa mẹ

Chuẩn bị thực đơn cho bé ăn dặm tại nhà

Một trong những lý do khiến các chuyên gia khuyến nghị nên tránh cho trẻ dưới 4 tháng tuổi ăn dặm vì một số thức ăn chế biến tại nhà có thể tiềm ẩn những nguy cơ. Trẻ dưới 4 tuổi không nên ăn rau chân vịt, củ cải đường, cà-rốt và đậu xanh hay bí đỏ, do những thực phẩm này chứa Nitrate. Lượng Nitrate này không thể gây hại cho trẻ lớn nhưng có thể gây Methemoglobin (một rối loạn khiến Hemoglobin của hồng cầu không thể thực hiện chức năng vận chuyển oxy) ở trẻ dưới 4 tháng tuổi.

Khi cho trẻ ăn, hãy làm cho bữa ăn trở nên thú vị:

  • Ngồi tại chỗ: ngay khi bé bắt đầu ngồi thẳng được mà không cần người đỡ, hãy sử dụng ghế ăn dặm để bé ngồi khi ăn. Khóa dây an toàn cho bé.
  • Khuyến khích sự khám phá: trẻ sẽ “chơi” với thức ăn nhiều hơn là bốc ăn, do đó có thể bữa ăn sẽ rất lâu và bừa bộn nhưng điều này giúp trẻ ăn theo nhu cầu và tập luyện các cơ của tay, vai,… thay vì chỉ ngồi há miệng và chờ thức ăn được đút tận miệng.

Chỉ cần đảm bảo rằng thức ăn được chế biến đủ mềm, dễ nuốt và được chia nhỏ phù hợp với bé.

  • Giới thiệu các đồ dùng: có thể cho bé cầm 1 chiếc thìa để giữ trong tay trong khi bạn cho bé ăn bằng một thìa khác. Còn việc bé dùng chiếc thìa đó như thế nào thì… mặc kệ bé thôi. Khi sự khéo léo đạt được một mức độ nào đó, hãy khuyến khích bé dùng thìa.
  • Cho bé dùng cốc: cho bé dùng cốc để uống sữa gối vào các bữa ăn dặm, điều này có thể mở đường cho việc cai sữa. Khoảng 9 tháng tuổi, bé có thể tự uống chất lỏng trong ly.
  • Các đĩa ăn cá nhân: nếu bạn cho bé bú bình, nước bọt từ miệng bé sẽ nhanh chóng làm hỏng thức ăn dư thừa. Thay vì cho bé bú bình, hãy cho phần ăn vào một đĩa sâu lòng.
  • Tránh việc bắt ép: nếu trẻ từ chối các thực phẩm mới, hãy dừng việc ăn dặm và cho bé thêm thời gian. Bắt đầu lại sau 1 tuần, và làm đúng các bước, đồng thời đa dạng các món ăn trong chế độ ăn để biết khẩu vị của bé.
  • Biết khi nào nên dừng lại: khi trẻ thấy no, chúng có thể phản ứng với việc đút thêm bằng cách khóc hoặc quay đi. Miễn là trẻ tăng cân đều đặn và ở mức độ cho phép thì không nên bắt trẻ ăn thêm. Nếu trẻ ngủ qua đêm thì không nhất thiết phải đánh thức bé để cho trẻ ăn vào ban đêm.

Tham khảo tại: https://www.mayoclinic.org/healthy-lifestyle/infant-and-toddler-health/in-depth/healthy-baby/art-20046200

Bài viết khác: Có nên cho bé dùng xe tập đi?

Vòng hổ phách cho bé mọc răng: những điều cần biết

 

comments